Showing posts with label triết học. Show all posts
Showing posts with label triết học. Show all posts

Thursday, April 2, 2009

Chương 10 : Hình thái kt xh

CHƯƠNG X

HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

Mục đích, yêu cầu nắm vững một số nội dung sau đây :

1 . Vai trò của sản xuất trong đời sống xã hội.

2 . Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng.

3 . Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

4 . Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

5 . Khái niệm hình thái kinh tế- xã hội.

6 . Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.

Nội dung :

I – Sản xuất vật chất – Cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội :

1.Thế nào là sản xuất vật chất :

– Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và của xã hội loài người .

– Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho đời sống xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.

2. Vai trò của sản xuất vật chất trong đời sống xã hội :

– Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản của mọi xã hội để duy trì cuộc sống của con người .

– Tất cả các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo … đều hình thành biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất.

– Trong quá trình sản xuất con người không chỉ cải tạo tự nhiên mà còn biến đổi cả bản thân mình .

Do đó, đối với các hiện tượng xã hội, người ta chỉ có thể đạt tới một sự giải thích có căn cứ, nếu bằng cách này hay cách khác, sự giải thích ấy được xuất phát từ sản xuất vật chất.

II. Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất :

1.Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

1.1 Phương thức sản xuất : Là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.

– Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.

– Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội : Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

– Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp tới cao .

Trong sản xuất, con người có quan hệ : Một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, tức là lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng.

Sơ đồ: Phương thức sản xuất

1.2.Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa người với giới tự nhiên. Nghĩa là trong quá trình sản xuất, con người phải chinh phục giới tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình.

Lực lượng sản xuất bao gồm :

- Tư liệu sản xuất bao gồm :

+ Đối tượng lao động: một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất.

+ Tư liệu lao động: Công cụ lao động + kho hàng bến bãi , giao thông vận tải .

Trong tư liệu lao động, công cụ lao động không ngừng được cải tiến, cho nên nó là yếu tố động nhất, cách mạng nhất.

Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội.

- Con người :

Tuy nhiên, tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động, khi chúng được kết hợp với lao động sống, đó chính là con người, với kỹ năng kỹ xảo, với trí tuệ và kinh nghiệm của mình. Hàm lượng trí tuệ trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay, đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận.

1.3. Quan hệ sản xuất :

Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất được gọi là quan hệ sản xuất. Thể hiện ba mặt sau đây:

- Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất.

- Quan hệ giữa người với người đối với việc tổ chức quản lý.

- Quan hệ giữa người với người đối với việc phân phối sản phẩm.

Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ thứ nhất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả những quan hệ khác . Bản chất của bất kỳ quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội được giải quyết như thế nào .

Có hai hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội .

Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong một phương thức sản xuất nhất định. Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị của mỗi hình thái kinh tế-xã hội quyết định tính chất, bộ mặt hình thái kinh tế – xã hội ấy. Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xét tính chất của một hình thái kinh tế - xã hội nào thì không thể chỉ nhìn ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà còn phải xét đến tính chất của các quan hệ sản xuất.

Sơ đồ : Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX

2. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất :

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.

Khuynh hướng chung của sản xuất là không ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động.

Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động , của kỹ thuật , trình độ kinh nghiệm , kỹ năng của người lao động , quy mô sản xuất , trình độ phân công lao động... Trình độ của lực lượng sản xuất gắn với tính chất của lực lượng sản xuất

Tính chất của lực lượng sản xuất :. Khi sản xuất còn trình độ thấp kém thì lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân – Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hiện đại , phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa.

Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn, đồng thời kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỷ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ theo.

Như ṿy, sự thay đổi của xã hội bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi lực lượng sản xuất . Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất . Sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ .

Thế nào là phù hợp :

+ Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp tối ưu giữa tư liệu sản xuất và người lao động .

+ Mở ra điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất , tinh thần đối với người lao động .

Nhưng lực lượng sản xuất luôn luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn định . Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa , trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển .

Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ , thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới. Trong xã hội co giai cấp đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời là cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội .

Đây là quy luật cơ bản phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.”

– Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất lại trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển .

– Quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song, tác dụng kìm hãm đó cũng chỉ có tính chất tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng quan hệ cũng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Sở dĩ quan hệ sản xuất có tác động trở lại mạnh mẽ với lực lượng sản xuất là vì nó qui định :

- Mục đích của sản xuất.

- Hệ thống quản lý của sản xuất và quản lý xã hội.

- Phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng .

Từ đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện để kích thích việc cải tiến lao động và kỹ thuật sản xuất , thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển .

Thực tiễn đã cho chúng ta thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó. Quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội. Sự tác động của quy luật này đã đưa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phương thức sản xuất cộng sản tương lai. Tuy nhiên không phải bất cứ nước nào cũng nhất thiết phải tuần tự trải qua tất cả các phương thức sản xuất … một số nước có thể bỏ qua hoặc một số phương thức sản xuất để tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn.

III. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng :

Xã hội – dưới bất kỳ hình thái nào đều là sản phẩm của quan hệ giữa người với người, rất đa dạng phong phú, vận động, biến đổi không ngừng. Công lao to lớn của Mác và Ăngghen là từ những quan hệ xã hội hết sức phức tạp đã phân biệt những quan hệ vật chất của xã hội với những quan hệ tinh thần – tư tưởng của xã hội, nêu bật được cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng .

1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng :

1.1. Cơ sở hạ tầng :

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định .

Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản xuất là tàn dư của xã hội trước và những quan hệ sản xuất là mầm mốmg của xã hội sau. Nhưng đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị quyết định .

1.2. Kiến trúc thượng tầng:

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội ( chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật ) và những thiết chế tương ứng (nhà nước gồm ( bộ máy bạo lực, quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù ) cùng các đảng phái, các đoàn thể xã hội ) và những quan hệ nội tại của chúng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định .

Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều có liên hệ với cơ sở hạ tầng của nó nhưng không như nhau . Các tổ chức chính trị, pháp luật có liên hệ trực tiếp, còn các yếu tố khác như triết học, nghệ thuật, tôn giáo, thì ở xa cơ sở hạ tầng và chỉ liên hệ gián tiếp với nó.

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệ đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính chất đối kháng. Phản ánh tính đối kháng ấy biểu hiện ở sự xung đột về quan điểm tư tưởng và ở cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng .

Bộ phận có quyền lực mạnh nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp có đối kháng giai cấp là Nhà nước - tiêu biểu cho chế độ chính trị hiện tồn về mặt chính trị, pháp lý. Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội.

2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

2.1. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng :

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện ở chỗ :

- Cơ sở hạ tầng nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, nghĩa là giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về mặt kinh tế thì cũng thống trị về mặt tinh thần. Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng .

- Những biến đổi căn bản của cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng .

- Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở hạ tầng mới ra đời thì kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó cũng xuất hiện. Tuy nhiên cũng có những nhân tố riêng lẻ của kiến trúc thượng tầng còn tồn tại dai dẳng, sau khi cơ sở hạ tầng sinh ra nó bị tiêu diệt và được giai cấp cầm quyền mới duy trì, kế thừa để xây dựng kiến trúc thượng tầng mới.

2.2. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:

Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối vơi cơ sở hạ tầng được thể hiện :

Bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũ và kiến trúc thượng tầng cũ . Trong đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng nhất.

Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cũng đều tác động mạnh mẽ nhưng thường là phải thông qua nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng, chỉ qua đó chúng mới phát huy được hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng cũng như đối với toàn xã hội.

Sự tác động mạnh mẽ của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng là điều không thể nghi ngờ . Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh đến vai trò tác động ấy đến mức phủ nhận tác động của quá trình kinh tế khách quan, phủ nhận tính tất yếu của quy luật vận động xã hội sẽ không tránh khỏi sai lầm, hoặc ngược lại, nếu xem thường cũng gây tác hại.

IV. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - Tự nhiên.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vạch rõ kết cấu cơ bản và phổ biến của mọi xã hội, quy luật lao động và phát triển tất yếu của xã hội .

1. Phạm trù hình thái kinh tế-xã hội:

Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó.

Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.

– Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật, quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội.

– Quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định tất cả mọi mối quan hệ xã hội khác .

Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tác động tích cực trở lại lực lựơng sản xuất.

– Đến lượt nó, kiến trúc thượng tầng được hình thành trên cơ sở các quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng) sẽ trở thành công cụ bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó. Mác đã xem quan hệ sản xuất là “cái sườn” của toàn thể cơ thể xã hội. và những kiến trúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản xuất đó là da thịt của cái sườn đó.

2. Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên :

Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp tới cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế – xã hội. Sự vận động thay đổi của các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.

Đó chính là do sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất – quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác. Chính do các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế – xã hội vận động phát triển thay thế nhau từ thấp tới cao trong lịch sử như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người.

3. Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế –xã hội:

Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội vạch rõ, nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển xã hội, tìm ra những nguyên nhân và cơ sở xuất hiện và biến đổi của những hiện tượng xã hội. Bác bỏ quan điểm duy tâm, siêu hình về lịch sử, coi xã hội là sự kết hợp có tính chất máy móc của nhiều cá nhân và gia đình, coi sự vận động, phát triển của xã hội là do ý chí của những nhà cầm quyền chi phối, coi kỹ thuật là cái quyết định tính chất chế độ xã hội , là tiêu chuẩn khách quan phân biệt các hình thái kinh tế – xã hội .

“… trước hết con người phải ăn, mặc, ở, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động triết học, tôn giáo, nghệ thuật …” Chừng nào cái sự thật hiển nhiên đó vẫn còn tồn tại thì chừng đó quan niệm duy vật về lịch sử vẫn không thể trở nên lạc hậu được .

Ý nghĩa của học thuyết :

+ Cung cấp cho chúng ta một phương pháp luận khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ khác nhau, hiểu rõ cơ cấu chung của hình thái kinh tế – xã hội và những quy luật phổ biến tác động chi phối sự vận động và phát triển của xã hội

+ Cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử, giúp con người hiểu được logic khách quan của quá trình tiến hóa xã hội. Học thuyết này vạch ra sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẻ của các sự kiện ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Chính vì vậy nó đem lại cho khoa học xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả, để giải thích chứ không chỉ mô tả sự kiện lịch sử. Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng tinh thần, đều chỉ có thể hiểu đúng khi gắn với một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.

V. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế-xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

1. Việc lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa:

Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp với xu thế của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên, chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nên phải trải qua nhiều khâu trung gian quá độ.

2. Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Điểm nổi lên là kinh tế của chúng ta còn quá nghèo nàn, lạc hậu … vì vậy khâu trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó là phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.

Đồng thời phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ( nhiều hình thức sở hữu đan xen nhau) là phù hợp với yêu cầu phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay.

Đồng thời không ngừng đổi mới chính trị, củng cố tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Xây dựng đời sống văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” .

3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta (xây dựng lực lượng sản xuất):

- Đây là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ.

- Phải đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.

- Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.

- Coi giáo dục đào tạo là nhiệm vụ hàng đầu.

4. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội (củng cố đổi mới kiến trúc thượng tầng):

- Đổi mới hệ thống chính trị.

- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

CÂU HỎI CHƯƠNG X

CÂU HỎI TRẢ LỜI :

1. Yếu tố giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất là gì ?

2. Yếu tố nào được xem là cơ sở quan trọng nhất để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại ?

3. Hoạt động được coi là hành động lịch sử đầu tiên của con người là hoạt động gì ?

4. Lịch sử loài người đã trải qua các thời đại khác nhau. Cái gì được coi là cơ sở khoa học để xác định thời đại đó?

5. Có ba tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng đắn của quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN, đó là những tiêu chuẩn gì ?

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM :

1. Xét đến cùng, nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thắng lợi của một trật tự xã hội mới là :

a. Luật pháp.

b. Hệ thống chính trị.

c. Năng suất lao động.

2. Phương thức sản xuất gồm :

a. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

b. Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng.

c. Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng.

3. Ngày nay, yếu tố giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất là :

a. Công cụ lao động.

b. Người lao động

c. Khoa học - công nghệ.

4. Động lực chủ yếu của sự tiến bộ xã hội là :

a. Sự phát triển của lực lượng sản xuất.

b. Sự phát triển của hoạt động nghiên cứu khoa học, cãi tiến kỹ thuật.

c. Sự phát triển của các quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế.

d.

5. Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, nó là quan hệ :

a. Tồn tại chủ quan bởi những người lãnh đạo các cơ sở sản xuất.

b. Tồn tại chủ quan, bị qui định bởi chế độ chính trị xã hội.

c. Tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người.

6. Quan hệ giữ vai trò quyết định đối với những quan hệ khác trong quan hệ giữa nguời với người của quá trình sản xuất là :

a. Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.

b. Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất.

c. Quan hệ tổ chức, quản lý và phân công lao động.

7. Cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế - xã hội là:

a. Toàn bộ những quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội.

b. Toàn bộ những điều kiện vật chất, những phương tiện vật chất tạo thành cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội.

c. Toàn bộ những điều kiện vật chất, những phương tiện vật chất và những con người sử dụng nó để tiến hành các hoạt động xã hội.

8. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là:

a. Quá trình phát triển của lịch sự tự nhiên.

b. Quá trình lịch sử hướng theo ý chí của giai cấp cầm quyền.

c. Quá trình lịch sử hướng theo ý chí của Đảng cầm quyền.

Tuesday, March 31, 2009

Hình thái kinh tế - xã hội

Một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chỉ một cấu trúc xã hội ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên một phương thức sản xuất nhất định với kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho cơ sở kinh tế của xã hội và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở đó. Các HTKT - XH đã có trong lịch sử qua các chế độ xã hội khác nhau (công xã nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa) là những nấc thang kế tiếp nhau trong quá trình phát triển của nhân loại như một quá trình phát triển lịch sử tự nhiên. Không phải tất cả các quốc gia dân tộc đều tuần tự trải qua tất cả các nấc thang của quá trình phát triển xã hội nói trên. Trong những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định của thời đại, có những quốc gia dân tộc có thể bỏ qua một hoặc hai nấc thang của quá trình phát triển xã hội để tiến thẳng lên một hình thái cao hơn. Mỗi HTKT - XH cũng là một "cơ thể xã hội" cụ thể, bao gồm trong đó tất cả các thành phần vốn có và các hiện tượng xã hội trong sự thống nhất hữu cơ và sự tác động biện chứng. Mỗi một HTKT - XH đều có cấu trúc phổ biến và tính quy luật chung, có những mối liên hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần cơ bản nói trên là động lực bên trong thúc đẩy sự vận động của HTKT - XH và sự tiến bộ lịch sử, làm chuyển biến xã hội từ HTKT - XH thấp lên HTKT - XH cao hơn, thường là thông qua những chuyển biến có tính cách mạng về xã hội.
Trước hết cần khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực là hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử xã hội, phù hợp với tiến trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Cho dù đến nay, chủ nghĩa xã hội vẫn chưa xuất hiện ở những nơi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao. Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác thì lực lượng sản xuất, xét đến cùng, bao giờ cũng là cái đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội, thay đổi một chế độ xã hội mà Mác gọi là hình thái kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, Mác đi đến kết luận: xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế - xã hội. Và tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng tiến lên của các hình thái kinh tế - xã hội, là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn. Mác khẳng định: “tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(2). Mặc dù khẳng định quá trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội là tiến trình bị quy định bởi các quy luật khách quan, nhưng Mác cũng luôn luôn cho rằng, con người “có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ”. Điều đó có nghĩa là, trong quan niệm của Mác đã hàm chứa tư tưởng: quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong những điều kiện và hoàn cảnh khách quan cụ thể nhất định.

Như vậy về mặt lý luận, chúng ta có thể khẳng định sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế phát triển của thời đại. Chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu và đã trải nghiệm những thành công của công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo chúng tôi trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây có nguyên nhân xa rời bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa học trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, học thuyết về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và về khả năng xây dựng chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là bộ phận quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là một học thuyết khoa học và cách mạng, học thuyết Mác - Lênin đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời đại, phản ánh chính xác những nhu cầu cơ bản cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản nhằm thay đổi thế giới và giải phóng con người. Để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại đó, các Đảng cộng sản phải vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tiến trình cách mạng, nhất là trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đã có không ít người hoài nghi tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Các thế lực phản động quốc tế coi sự sụp đổ đó là “sự cáo chung” của toàn bộ lý luận mác xít về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong tình hình cực kỳ khó khăn phức tạp như vậy, công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã thể hiện mạnh mẽ sức sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực và thu được những thành tựu ngày càng to lớn. Thắng lợi của đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hai mươi năm qua đã cho thấy, những luận điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hành động của chúng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề không phải là bản thân lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có nhận thức thật sự đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và biết vận dụng một cách sáng tạo nó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không. Thực tiễn cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới. Đất nước hiện đang đứng trước cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và trong nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày càng làm sáng tỏ con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới. Đó là con đường “phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền tảng kinh tế hiện đại”(3).

Rõ ràng, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với phương thức “phát triển rút ngắn” nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, đương nhiên là một sự nghiệp to lớn, lâu dài, đầy khó khăn phức tạp. Nhưng thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn hai mươi năm đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ và bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đang tiến lên phía trước, bởi chủ nghĩa xã hội đổi mới của Việt Nam là biểu hiện sinh động sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính khoa học và thuộc tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là không gì có thể ngăn cản nổi, bởi vì đó là quy luật tiến hóa khách quan của lịch sử, lại đang được Đảng ta nhận thức và vận dụng sáng tạo. Quán triệt bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy tính độc lập, sáng tạo, đồng thời kế thừa tinh hoa trí tuệ dân tộc, những kinh nghiệm và thành tựu khoa học, văn hóa của thế giới, nhất định chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của những người cộng sản và nhân dân thế giới. Với thành công ngày càng to lớn của công cuộc đổi mới, đất nước ta, một lần nữa trở thành nơi gửi gắm niềm tin và sự kỳ vọng của bạn bè quốc tế. Việt Nam hôm nay đang được nhìn nhận một cách đầy ngưỡng mộ: “Đường lối đổi mới trong đó kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử... hy vọng rằng Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đã từng chiến thắng trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ trước đây, sẽ thành công trước thách thức mới trên chặng đường mà chưa một ai đi qua”(4).

4. Kết luận

Bất chấp thăng trầm của lịch sử, từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Thực tiễn thành công và thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã minh chứng hùng hồn: bản chất khoa học, cách mạng là nguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng ta đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ nghĩa xã hội đổi mới Việt Nam đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và ngày càng thu được những thành tựu to lớn. Điều đó trước hết bắt nguồn từ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trung thành với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội của thời kỳ đổi mới gắn với dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, HN, 2006 tr.70.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995, Tập 23 tr. 21.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, HN, 2001 tr.84.
4. Lời chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2001, tr.53.

Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội

Chúng ta và cả cộng đồng nhân loại vừa được chứng kiến những giây phút lịch sử của sự kiện chuyển giao thế kỷ. Thế kỷ XX, thiên niên kỷ thứ hai đầy biến động đã qua để giờ đây, chúng ta và cả cộng đồng nhân loại bước sang thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba cũng sẽ lại chứa đầy những biến cố lịch sử mới.

Là những người có may mắn được hưởng niềm vui lớn lao ấy trong cuộc đời con người, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào rằng thế kỷ XX là thế kỷ phát triển rực rỡ nhất của loài người trong thiên niên kỷ thứ hai. Đó là thế kỷ mà khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng lên gấp bội. Nhưng đó cũng là thế kỷ có nhiều sự kiện đau buồn như đã diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng loạt các cuộc xung đột vũ trang khiến cho cả cộng đồng nhân loại phải hứng chịu biết bao tổn thất nặng nề. Dấu ấn nổi bật và đậm nét của thế kỷ này là những thắng lợi trong cuộc đấu tranh cách mạng kiên cường, giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại - cuộc cách mạng mà "trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế".

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã "mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới" và như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CHXH trên toàn thế giới".

Vào các năm 1957 và 1960, Hội nghị quốc tế các Đảng Cộng sản và Công nhân xác định: Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Tuy nhiên, kể từ đó, việc nghiên cứu, nhận thức nội dung cơ bản ấy của thời đại chúng ta đã không tránh khỏi bị chi phối bởi sự thăng trầm của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và của hệ thống XHCN. Những năm 80 về trước, thắng lợi không thể phủ nhận được trong công cuộc xây dựng CHXH ở hàng loạt nước trong hệ thống các nước XHCN, trước hết là Liên Xô, đã xuất hiện một khuynh hướng tuyệt đối hóa những thành quả đạt được trong công cuộc xây dựng CHXH, đã hình thành một quan niệm về thời đại dựa trên những ảo tưởng có thể nhanh chóng thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy một cách chủ quan quá trình cách mạng XHCN, không phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Ngược lại, vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, khiến phong trào cách mạng XHCN thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, đã có không ít người vấn nuôi hy vọng đi tới CHXH bằng con đường bằng phẳng, êm ả rốt cuộc lại nhanh chóng rơi vào tâm trạng bi quan, thất bại chủ nghĩa, nên đã vội vàng phủ nhận nội đung và tính chất cơ bản của thời đại hiện nay.

Đương nhiên là chúng ta không được phép dửng dưng trước sự khủng hoảng, đổ vỡ ở hàng loạt nước trong hệ thống XHCN. Chẳng lẽ, sự khủng hoảng, đổ vỡ của chế độ XHCN không đưa ra lời cảnh tỉnh nào đối với những người cách mạng hay sao? Song, nếu vì thế mà đã vội vàng đi đến kết luận rằng nội dung và tính chất của thời đại đã thay đổi thì thật là một sai lầm lớn.

Nhiều năm đã qua, sau sự biến động nói trên, thực tiễn đã và đang diễn ra trên thế giới cho phép chúng ta khẳng định rằng, sự sụp đổ đó không có nghĩa là sự sụp đổ của CHXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, kim chỉ nam cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn và triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức và giải phóng con người, xây dựng XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Sự sụp đổ ấy cũng không phải là sự sụp đổ của phong trào XHCN thế giới, vì hiện nay các nước XHCN ở Châu Á và châu Mỹ Latinh vẫn tiếp tục giành được nhưng thắng lợi to lớn, không những trụ vững mà còn có bước phát triển mới rất quan trọng. Ngay ở các nước trước đây là XHCN, tuy Nhà nước XHCN không còn, nhưng ý thức hệ XHCN và các lực lượng XHCN vẫn tồn tại và tất yếu sẽ tìm ra phương thức phù hợp với thực tiễn của mỗi nước để tổ chức lại và tiến bước theo tiến trình phát triển lịch sử của nhân loại.

Phong trào XHCN thế giới đang ở một khúc quanh lịch sử, một bước thụt lùi lớn, song chắc chắn rằng "loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử". Dù cho hiện nay có những đảo lộn rất lớn, nhưng những đảo lộn ấy không làm bánh xe lịch sử quay ngược lại, không hề làm thay đổi tính chất và nội dung căn bản của thời đại hiện nay được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Khẳng định đó của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng và có cơ sở vững chắc. Bởi lẽ, thời đại là một phạm trù lịch sử có tầm bao quát rộng lớn và phản ánh tổng quát một giai đoạn lớn của lịch sử, mang ý nghĩa cơ bản về sự vận động của thế giới, cũng như của mỗi cộng đồng quốc gia dân tộc. Một thời đại cụ thể, suy đến cùng, là tổng hoà những nhân tố lịch sử cấu thành, là sự xác nhận của lịch sử với tính hợp quy luật đối với sự tồn tại của một chế độ xã hội nhất định.

Khi phân tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản thông qua những biến đổi về kinh tế và chính trị của nó, C.Mác đã chỉ ra logic khách quan tất yếu dẫn tới sự phủ định của chính CNTB và sự ra đời của CHXH - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội mới, hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Quan niệm đầy đủ về một thời đại mang tính quá độ đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức đúng đắn về địa vị của cả CHXH lẫn CNTB trong thế giới thực tại. Điều đó không hề làm mất đi trong nhận thức và quan điểm của chúng ta sự cần thiết phải phê phán tính chất phản động về chính trị của các thế lực tư bản, đế quốc. Hơn nữa, nó không làm mất đi tính cảnh giác trước âm mưu và hành động "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, bóp nghẹt các phong trào giải phóng dân tộc. Với tư duy biện chứng, trước sau như một, chúng ta tuyên bố sự diệt vong không thể tránh khỏi của CNTB thế giới và sự ra đời tất yếu của CHXH trên toàn thế giới

CNTB vẫn mang trong mình những mâu thuẫn đối kháng vốn có, những nhân tố chứa đựng sự bùng nổ xã hội sâu sắc, song nó hiện nay vẫn là một chế độ xã hội đang tồn tại CHXH với nhưng thành tựu đã đạt được trong gần một thế kỷ đã, đang và vẫn chứng tỏ trước loài người khả năng và triển vọng phát triển của mình. Với tư cách là một sự kiện lịch sử vừa mới xác lập và đang còn là những thử nghiệm ban đầu, sự đổ vỡ mất mát của CHXH đầu là hiện thực, song đó chỉ là tạm thời. Phong trào XHCN thế giới đầu đang ở giai đoạn thoái trào, song rồi đây nó sẽ phục hồi và phát triển. Lịch sử luôn luôn là một chuỗi liên tục của quá trình phát triển. Ph.Ăngghen đã từng nói không có chế độ nô lệ cổ đại thì không có CNXH hiện đại. Lịch sử vừa đòi hỏi con người hành động sáng tạo, lại vừa tạo ra những tiền đề cho quá trình sáng tạo mới của con người. Lịch sử chứng tỏ rằng, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới không diễn ra trong một thời gian ngắn và theo một con đường thẳng tắp. Cũng như mọi thời đại khác trong lịch sử, nó có tiến, có thoái, quanh co khúc khuỷu, nhưng cuối cùng loài người nhất định sẽ đi đến một xã hội tốt đẹp, văn minh, dân chủ, tiến bộ hơn chế độ TBCN đó chính là chế độ XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển xã hội diễn ra theo tiến trình lịch sử tự nhiên như các nhà sáng lập CHXH khoa học đã khẳng định. Đó là xu thế tất yếu không thể đảo ngược được của lịch sử.

Mặc dù đã có biết bao biến cố lớn lao diễn ra trong hơn một thập kỷ qua mà biến cố lớn nhất là sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, song thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CHXH trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Đó là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CHXH gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên CHXH.

Để đi tới mục tiêu ấy của thời đại, hơn bao giờ hết, trong giai đoạn hiện nay, nhân dân các nước càng phải ra sức cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống các thế lực thù địch của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CHXH càng phải tỉnh táo trước âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình" của chúng hòng duy trì vĩnh viễn sự thống trị của CNTB trên hành tinh này.

Lịch sử Việt Nam hơn 70 năm qua với sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi vào quỹ đạo cách mạng vô sản, đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc nhằm giải phóng và thống nhất Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt là thắng lợi của con công cuộc đổi mới toàn diện đất nước là thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng nước ta vừa thể hiện, vừa góp phần thúc đẩy trào lưu chính của thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CHXH trên phạm vi toàn thế giới.

Khúc quanh hiện nay của lịch sử cách mạng thế giới, dù có làm cho sự quá độ từ CNTB lên CHXH trên toàn thế giới bị kéo dài thêm, song không thể đảo ngược được xu thế của thời đại. Con đường của thời đại, con đường mà nhân loại đang đi tới chính là con đường thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CHXH.

Nhận thức đúng và làm rõ nội dung, tính chất của thời đại ngày nay là cơ sở quan trọng để chúng ta hoạch định đúng đắn đường lối và sách lược của chúng ta và "chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ"như V.I.Lênin đã từng khẳng định.
Tạp chí Triết học